Thực tế tăng cường trong đào tạo

17/03/21
AMBER DESIGN TEAM

Ber là một thầy giáo lâu năm của làng. Tính Ber ham học hỏi, phần lớn thời gian đều dành hết vào nghiên cứu eLearning, nên cũng chẳng có lúc nào rảnh để đi chơi cùng mấy ông bạn.

Hôm nay cũng vậy, Ber phải từ chối lời mời đi xem voi cùng mấy ông thầy bói làng bên để có thêm thời gian cho nghiên cứu mới. Nghĩ bụng mấy ông ấy xem voi chắc cũng mất cả ngày, ấy vậy mà chỉ dăm chục phút sau, 5 ông thầy bói đã quay về nhà Ber kể chuyện.

Chúng ta có thể đang ở giữa một cuộc cách mạng văn hóa. Cũng giống sự tan rã của Liên bang Xô viết, hay tác động lâu dài của internet đến đời sống hiện đại; Thực tế tăng cường cũng có thể thay đổi hoàn toàn nhận biết vốn có của chúng ta.

Điều này đặc biệt đúng với thế giới của Đào tạo và Phát triển.

Tại sao lại nói như vậy? Bởi khả năng của Thực tế tăng cường – gọi tắt là AR, là vô tận. Quân đội đang áp dụng AR trong quá trình huấn luyện chiến đấu để giúp cải thiện thời gian phản ứng và suy nghĩ hợp lý dưới áp lực cực lớn. Ngành y tế đang áp dụng AR trong đào tạo phẫu thuật vì những lý do tương tự. Ngay cả các doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác cũng đang bắt đầu sử dụng AR để nâng cao kỹ năng mềm cho nhân viên.

Đây chỉ là một vài ví dụ về tiềm năng vô hạn mà công nghệ mới (tương đối) này mang lại. Vậy tại sao AR lại là ngôi sao mới của học tập và đào tạo? Tại sao nó lại quan trọng đối với L&D? Và tại sao các chuyên gia L&D lại muốn biến nó thành một phần của đời sống hàng ngày?

Trước khi trình bày chi tiết lý do tại sao thực tế tăng cường lại tuyệt vời như vậy, chúng ta sẽ quay ngược thời gian và khám phá xem nó ra đời như thế nào. Nó dường như đã xuất hiện từ đâu trong vài năm qua giống như một cuộc hạ cánh bí ẩn nào đó của người ngoài hành tinh, nhưng thực tế không phải vậy…

Nhà khoa học máy tính Ivan Sutherland tạo ra The Sword of Damocles, được cho là “màn hình gắn trên đầu” đầu tiên trên thế giới và sử dụng AR và VR.

 Cụm từ thực tế tăng cường được nhà nghiên cứu Tom Caudell của Boeing (Công ty hàng không vũ trụ hàng đầu tại Mỹ) đưa ra.

AR Quake được phát hành! AR Quake là trò chơi video thực tế tăng cường trên điện thoại di động đầu tiên. Nhân vật chính đóng vai ‘Ranger’, người được gửi qua một cổng thông tin để ngăn chặn một loại mật mã bí ẩn tên là Quake.

Tạp chí phong cách sống dành cho nam giới của Mỹ Esquire xuất bản trang bìa đầu tiên được nhúng AR. Độc giả quét bìa bằng điện thoại di động của họ và màn hình đột nhiên xuất hiện Robert Downey Jnr (một diễn viên người Mỹ) đang trò chuyện và quảng cáo cho bộ phim mới nhất của anh, Sherlock Holmes.

Ứng dụng AR dựa trên mô hình điện toán đám mây đầu tiên được phát hành bởi Blippar – Một công ty nổi tiếng tại Anh chuyên về thực tế tăng cường trên ứng dụng di động và ứng dụng web.

Nintendo – Một hãng trò chơi điện tử lâu đời tại Nhật – ra mắt Pokemon Go! (Chắc hẳn bạn cũng có nghe về trò chơi này) Và từ đó đột nhiên AR không còn là một công nghệ ngoài lề; và trò chơi sau khi được ra mắt cũng trở thành trải nghiệm được hàng triệu người trên toàn thế giới yêu thích.

Vào thời kỳ đỉnh cao của trò chơi vào đầu năm 2016, người dùng hàng ngày của Pokemon Go đạt trung bình 45 triệu trên toàn thế giới mỗi ngày. Thu thập Pokemon trong một khu rừng, trong phòng tắm của bạn hoặc thậm chí trên cánh máy bay trở thành một việc thường xuyên đối với nhiều người chơi.

Điều gì đã và đang khiến Pokemon Go trở thành một hiện tượng toàn cầu? Đó có phải là việc sử dụng AR theo một cách mới, thú vị? Đó là khía cạnh xã hội? Hay là sự đơn giản? Hoặc phải chăng là cảm giác có thành tựu bạn nhận được khi bắt được một Pokemon hiếm? Tất cả những điều trên đều đúng. Nhưng tại sao điều này lại liên quan đến L&D? Dưới đây là bảy lý do:

Theo dòng thời gian của chúng tôi, ví dụ đầu tiên về thực tế tăng cường được phát triển vào năm 1968 bởi Ivan Sutherland. Nó được gọi là The Sword of Damocles, là một màn hình đeo trên đầu có thể được coi là một phiên bản thời kỳ đồ đá của thực tế tăng cường. Ngay cả hồi đó, rõ ràng là để AR hoạt động, cần phải có yếu tố di chuyển.

Mãi cho đến ngày nay, đây có thể được coi là thời điểm vàng cho sự phát triển của thực tế tăng cường, bởi thiết bị di động đang trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Theo một nghiên cứu tại Mỹ vào năm 2018, một người trung bình kiểm tra điện thoại của họ 52 lần một ngày. Trên hết, giới tâm lý học công nhận nomophobia là một nỗi ám ảnh mới – nỗi sợ hãi khi không có điện thoại di động của bạn. Các nghiên cứu từ SecurEnvoy – Một hãng chuyên về bảo mật di động tại Anh – cho thấy 66% tổng số người dùng điện thoại thông minh mắc chứng nomophobia. Đủ để nói rằng, điện thoại thông minh đã trở thành “một phần cơ thể” của chúng ta.

Có hơn 500.000 ứng dụng giáo dục trên toàn thế giới, chứng minh rằng giáo dục qua thiết bị di động là cách mọi người muốn học. Kết hợp thêm yếu tố thực tế tăng cường, đây quả là một công thức bùng nổ cho sự tương tác của người học!

Gamification là quá trình áp dụng cơ chế trò chơi vào các môi trường không phải trò chơi để tạo hứng thú cho người học. AR luôn đồng nghĩa với chơi game. Từ AR Quake, đến Harry Potter Wizards Unite, đến Pokemon Go; hiện có rất nhiều trò chơi AR phổ biến trên thị trường.

Công nghệ AR có áp dụng cơ chế trò chơi cũng đang được sử dụng để thúc đẩy hành vi học tập. Ví dụ: ứng dụng Arloon Plants – một ứng dụng về chăm sóc cây – dạy bạn tất cả về nghề làm vườn, nhưng cũng thêm các yếu tố trò chơi vào để giữ cho người học cảm thấy hứng thú và quyết tâm học nhiều hơn.

Đào tạo thường mang một lượng lớn rủi ro. Ví dụ như giảng viên không đủ tiêu chuẩn, môi trường học tập không an toàn,… Nhưng AR đã thay đổi điều này.

AR trong đào tạo y tế đang trở thành tiêu chuẩn. Ví dụ, công ty Blippar đang làm việc với một công ty dược phẩm để đào tạo các bác sĩ và y tá về cách các phương pháp điều trị có thể tiến triển trên các bệnh nhân khác nhau.

AR cũng đang được sử dụng để đào tạo các ngành rủi ro khác như điện tử, hàng không, cứu hỏa và các công việc nâng máy nặng như vận hành xe nâng.

Khổng Tử đã từng nói “Tôi nghe và tôi quên, tôi thấy và tôi nhớ, tôi làm và tôi hiểu,”. Luận điểm này vẫn đúng cho đến tận ngày nay.

Sử dụng AR trong đào tạo giúp học viên tiếp xúc với các tình huống thực tế, khiến nó trở nên thú vị hơn nhiều so với sách và cũng đáng nhớ hơn nhiều.

Theo Harvard Business Review, học tập dựa trên tình huống giúp giải phóng Oxytocin; là một chất hóa học được não bộ tiết ra khi bạn đang yêu! Đây là lý do tại sao việc kết hợp tình huống trong quá trình đào tạo lại rất hấp dẫn.

Theo nghiên cứu của Zappar – Công ty nổi tiếng là đối tác tạo trải nghiệm thực tế ảo và thực tế tăng cường cho các thương hiệu lớn nhất thế giới – thực tế tăng cường thúc đẩy mức độ chú ý thị giác cao trong não, gần gấp đôi so với các nhiệm vụ không liên quan đến AR. Thu hút sự chú ý thông qua hình ảnh là thứ khiến các thương hiệu chi rất nhiều tiền. Đây là một vấn đề đáng lưu ý. Chiến dịch quảng cáo đắt nhất mọi thời đại là của hãng thời trang Chanel. Nó tiêu tốn 33 triệu đô la để sản xuất. 

Những phát hiện của Zappar cũng cho thấy rằng AR thúc đẩy mức độ chú ý cao hơn bất kỳ phương tiện nào khác, bao gồm sách, PDF, video và hơn thế nữa. Điều này khiến cho AR trở thành phương tiện hoàn hảo để thu hút người học của bạn tham gia vào quá trình đào tạo của họ!

May mắn thay, chúng ta đang sống trong thời đại mà mọi người vẫn đang có những phản ứng đáng kinh ngạc khi trải nghiệm thực tế tăng cường và kính thực tế ảo. Từ cú sốc thuần túy, đến những tiếng kêu ngây ngất, những phản ứng gợi nhớ đến cảm giác ham chơi mà lũ trẻ hay có vào sáng mồng 3 Tết. Cảm giác ngạc nhiên của mọi người khi sử dụng công nghệ AR cũng gần giống như vậy. Theo một nghiên cứu mang tính khoa học thần kinh của zappar, người dùng thường ít có cảm giác muốn rời đi hơn khi đang trải nghiệm thực tế tăng cường.

Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi nói trí nhớ là yếu tố quan trọng đối với việc rèn luyện. Đường cong quên lãng của nhà tâm lý học người đức Hermann Ebbinghaus cho biết rằng chúng ta quên 90% những gì chúng ta học được trong tháng đầu tiên. Do đó, ta cần phải tìm cách để chống lại điều này. Và AR là một công cụ tuyệt vời trong cuộc chiến chống lại Đường cong quên lãng. Nghiên cứu chỉ ra rằng não bộ có khả năng ghi nhớ các tác vụ liên quan đến AR cao hơn 70% so với các tác vụ không liên quan đến AR. Điều này có nghĩa là khi bạn sử dụng AR, phần lớn trải nghiệm của bạn sẽ được chuyển vào bộ nhớ dài hạn của não. Do đó, AR tiết kiệm một khoản tiền đáng kể cho việc tái đào tạo.



Từ lợi ích không thể đo lường trong đào tạo y tế, đến nâng cao kỹ năng mềm; còn vô số tiềm năng giáo dục chúng ta có thể khai thác từ AR. Ngoài ra, nó tiết kiệm chi phí tái đào tạo đắt đỏ và đặt sự an toàn lên hàng đầu, thay vì học trong môi trường có sự rủi ro. Trên thực tế, việc học đã không còn buồn tẻ nữa vì đã có AR. Trên thực tế, nó đã được “tăng cường”.

Sau khi mượn Ber công nghệ thực tế ảo tăng cường, 5 thầy bói chào cảm ơn rồi hí hửng đi xem lại tổng thể con voi nó như thế nào. Ber lại tiếp tục với đống nghiên cứu eLearning của mình để hoàn thành mục tiêu mang lại niềm vui trong học tập và đào tạo.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin bài Khác